Tử Vi Hoàng Huy

Tử Vi Hoàng Huy Tử Vi Luận Giải

Cầu phúc thì không có phúc, phúc phải do tu mà có, phúc nên tích chứ không nên tán. Phúc không tích thêm mà chỉ lo hưởng...
04/06/2024

Cầu phúc thì không có phúc, phúc phải do tu mà có, phúc nên tích chứ không nên tán. Phúc không tích thêm mà chỉ lo hưởng thì cũng hết, mà phúc hết thì mọi tai hoạ tự nhiên ập đến.

HT Thích Phổ Tuệ

Lời giảng của Ngài hay quá, đức hạnh của Ngài cao quá, bậc chân tu đắc đạo

Tìm hiểu phú tử viHôm nay tôi lại xin tiếp tục thảo luận về phú tử vi sau khi đã gián đoạn một vài kỳ vì có một số độc g...
11/05/2024

Tìm hiểu phú tử vi
Hôm nay tôi lại xin tiếp tục thảo luận về phú tử vi sau khi đã gián đoạn một vài kỳ vì có một số độc giả đã tha thiết yêu cầu tôi sớm trả lời hoặc viết về một vài khÍa cạnh khác. Vậy quý bạn nào đang theo dõi loạt bài về phú tử vi xin thông cảm cho tôi.
HOÁ KỴ TÝ CUNG KHOA LƯƠNG PHỤ CHIẾU, ĐẮC QUÂN DÂN SỦNG ÁI
Giải nghĩa: Mệnh an tại Tý có Hoá Kỵ tọa thủ và Hoá Khoa, Thiên Lương hội họp thì được rất nhiều người quý mến, ngưỡng mộ. Có sách chép là "Chúng nhân tôn phục" thay vì "Đắc quân dân sủng ái", nhưng sự khác biệt đó cũng không quan trọng lắm vì đại để cũng chỉ đề cập đến số người đông đảo mà thôi .
Nhận xét: Ngoại trừ ở cung Điền hoặc Tài, Hóa Kỵ thường bị coi là xấu cho nên trong trường hợp này thiết tưởng ta cũng không nên có thành kiến về Hoá Kỵ quá mức mà quên lãng đi một ưu điểm Ít có về sao trên. Tuy nhiên quý bạn cần lưu ý:
Điều tiên quyết là Mệnh phải ở cung Tý mới ứng nghiệm. Dù ở cung Ngọ là cung xung chiếu cũng không áp dụng được. Về lý do tại sao chỉ đặt trường hợp cung Tý tôi chưa tìm hiểu được, nhưng về sự ứng nghiệm tôi có thề đoan chắc với quý bạn.
Điểm cần thiết thứ hai là chỉ có Hoá Khoa và Thiên Lương mới sử dụng được Hóa Kỵ hữu hiệu nghĩa là không thể lấy Hoá Quyền, Hoá Lộc hoặc Khôi Việt để thay thế cho Hoá Khoa, lấy Thiên Phủ, Thiên Tướng để thay thế Thiên Lương . Điều này cũng chẳng có gì lạ lùng vì Hoá Khoa mới tượng trưng cho thông minh, tháo vát và Thiên Lương mới chủ về người biết ăn nói (những nhà mô phạm, du thuyết thường có sao này) do đó 2 sao này phối hợp với nhau đủ khả năng sử dụng Hoá Kỵ tượng trưng cho cái lưỡi, tức là sự ăn nói nên mới được nhiều người ngưỡng mộ chứ không phải nhờ khÍa cạnh nào khác, cho nên mới cần phải có Khoa Lương là các sao rất phù hợp với lãnh vực này. Vì vậy nếu gặp Thiên Phủ chẳng hạn thì đương số ăn nói lúng túng, chẳng ra lời lẽ gì cả vì Thiên Phủ chủ về bệ vệ khoan thai, chậm rãi thì làm sao dùng được sao Hoá Kỵ. Nếu gặp sao Thất Sát lại còn tệ hơn vì sao này chủ về võ chứ không dÍnh dấp gì đến văn, cho nên khi gặp Hoá Kỵ thì đương số ăn nói lỗ mãng, dữ dằn, thiếu tế nhị, nhất là khi thiếu Hoá Khoa thì lại càng tệ hơn nữa, khi đó thì làm sao còn được ai ngưỡng mộ nữa . Trường hợp gặp Tham Lang tuy không trở thành người du thuyết được nhưng cũng có thể là người khéo ăn khéo nói dễ thuyết phục người khác một cách riêng tư vì Tham Lang dù sao cũng chủ về khôn ngoan, lanh lợi, mặc dù đương số có thể thất bại khi đứng trước quần chúng đông đảo .
Câu phú đã nêu ra một cách hợp lý là Khoa Lương phụ chiếu, chứ không phải đồng cung với Hoá kỵ. Thực thế, nếu quý bạn coi lại cách an Hoá Kỵ thì sẽ thấy rằng không mấy khi Hoá Kỵ lại đồng cung với Thiên Lương, trừ trường hợp tuổi Kỷ thì vì Hoá Kỵ đồng cung với Văn Khúc cho nên có thể đồng cung với Thiên Lương ( vì Văn Khúc có thể đồng cung với Thiên Lương ). Đối với Hoá Khoa cũng vậy, rất Ít có trường hợp Hóa Kỵ đồng cung với sao đó.
Tuy câu phú trên có nêu ra tổng quát là cứ có Khoa Lương là "xài" được Hoá Kỵ , nhưng thực ra chỉ có một số tuổi là hy vọng gập, còn một số tuổi khác không bao giờ được hưởng cách trên. Nếu quý bạn chịu khó ngồi lập ra đủ 10 trường hợp tuổi theo hàng Can (và cách an sao Hoá Kỵ phải theo Can) và sao khác thì sẽ thấy chỉ có tuổi Giáp, Ất, Mậu là hay gặp Khoa Lương phụ chiếu Hoá Kỵ còn các tuổi Đinh , Nhâm , Quý thì đừng bao giờ hy vọng được hưởng cách trên .
VĂN XƯƠNG TÍNH THANH THẢ KHIẾT TỬ ÍCH PHU SƯƠNG
Giải nghĩa: Câu này chỉ áp dụng cho phụ nữ và có nghĩa là đàn bà cung Mệnh có Văn Xương tọa thủ thì tÍnh tình tao nhã và vượng phu Ích tử.
Nhận xét: Nếu ta chỉ biết câu này thôi thì thiết tưởng chẳng có gì đáng nói, nhưng nếu ta đọc tới câu "Nữ nhân Xương Khúc thông minh phú quý đa dâm" liệu ta còn dám nghĩ rằng người đàn bà đó có đáng gọi là "tao nhân" hay "vượng phu Ích tử" chăng? Thực ra hai câu phú này đều ứng nghiệm cả, miễn là ta phải chú ý tới các sao khác:
Nếu có thêm Đào, Riêu, Mộc, Cái thì chắc chắn vấn đề tao nhã và vượng phu Ích tử không còn đặt ra được nữa mà phải nhường chỗ cho "đa dâm". Dù cho trường hợp này có Thiên Phủ, Nguyệt đức, Khôi, Việt…cũng vẫn còn tÍnh xấu đó, nhưng bề ngoài hơi khó nhận thấy.
Nếu vắng hẳn bộ sao "ướt át" kể trên và lại có Hóa Quyền, Khôi, Việt hoặc Thiên Phủ, Thiên Hình…ta có thể đoán chắc là đương số thuộc trường hợp câu phú thứ nhất, nghĩa là nết hạnh, đoan trang, vượng phu Ích tử.
Sau hết tôi cần nhắc lại (điều này tôi đã nêu ra đôi ba lần) là vào thời đại văn minh tiến bộ, hai sao Xương Khúc của phụ nữ đã có môi trường thÍch hợp giống như đối với phái nam nghĩa là phụ nữ có hoàn cảnh được ăn học cho tới cao khoa, cho nên khÍa cạnh "đa dâm" đã bị vô hiệu hóa rất nhiều, và do đó nhiều khi chỉ cần tránh được Đào, Riêu, Mộc, Cái là đủ đứng đắn chứ khỏi cần thêm Thiên Phủ, Hóa quyền…như đã nói trên. Đối với phụ nữ thời phong kiến có thể nhóm sao sau này vẫn còn cần thiết để áp đảo được tÍnh lãng mạn, lẳng lơ đi.
TUẦN TRIỆT ĐƯƠNG ĐẦU THIẾU NIÊN TÂN KHỔ
Giải nghĩa: Theo ý kiến của đa số những nhà Tử vi thì "đương đầu" có nghĩa là án ngữ ngay tại Mệnh, nhưng theo một vài "cây" Tử vi thì Tuần Triệt ở cung xung chiếu hoặc tam hợp với Mệnh cũng phải coi là đương đầu. Còn về ý nghĩa cả câu thiết tưởng không cần phải nêu ra vì đã quá rõ ràng.
Nhận xét: Chắc có bạn mỉm cười khi thấy tôi nêu ra câu phú đã quá quen thuộc và dễ hiểu, nhưng thực ra có một vài khúc mắc mà quý bạn không thể coi thường được:
Nếu chỉ chấp nhận trường hợp Tuần Triệt án ngữ ngay tại Mệnh mới gọi là "đương đầu" quý bạn vẫn phải phân biệt khi Mệnh có chÍnh tinh và Mệnh Vô chÍnh diệu. Trường hợp có chÍnh tinh bị Tuần Triệt án ngữ không phải lúc nào cũng tai hại vì thực ra chỉ có Tử Phủ, Thiên Tướng, Cơ Lương, Vũ khúc là sợ Tuần Triệt nhất, còn Thất sát nếu hãm địa lại gặp Triệt (hay hơn là Tuần) thì trái lại trở nên tốt đẹp hữu hiệu vô cùng, nhưng lẽ tất nhiên nếu Thất Sát đắc địa thì phải tránh Tuần mới hay. Còn trường hợp Mệnh vô chÍnh diệu gặp Tuần Triệt án ngữ cũng đừng vội cho là hay mà phải để ý xem có nhiều trung tinh tốt đẹp tọa thủ hay không. Nếu có thì cần tránh Tuần, Triệt (nhất là Triệt) vì Tuần bao vây không cho trong ngoài liên lạc được với nhau để phát huy khả năng phối hợp, còn Triệt thì chặt gẫy phá vỡ mọi sao hay khiến cho mất hẳn yếu tố tốt có sẵn tại Mệnh và các sao bên ngoài chiếu về không cứu vãn nổi. Trường hợp không có trung tinh tốt thì chỉ kỵ mỗi Tuần mà không sợ Triệt vì Mệnh xấu mà còn không nhờ cậy gì được các sao tại các cung tam hợp (bị Tuần bao kÍn không vào được) sẽ khiến cho đương số thực sự "tân khổ", trong khi Triệt án ngữ lại thuận lợi vì không những phá được những yếu tố xấu tại Mệnh mà lại còn không cản trở sự trợ giúp bên ngoài.
Nếu chấp nhận Tuần, Triệt ở cung xung chiếu hoặc tam hợp cũng gọi là "đương đầu" chắc có bạn thắc mắc không hiểu tại sao Tuần, Triệt chỉ chiếu cũng gây ảnh hưởng mạnh mẽ như án ngữ. Điều này rất dễ hiểu vì có bao giờ ta chỉ căn cứ vào nguyên cung Mệnh để giải đoán mà trái lại luôn luôn phải kết hợp với các sao khác ở các cung tam hợp và nhất là ở cung xung chiếu. Do đó, tỷ dụ như Mệnh có Tử Phủ (Dần, Thân) rất cần có Vũ Tướng và các bộ trung tinh khác (như Tả Hữu, Thai Tọa, Khôi Việt…) mới thành cách quần thần khánh hội, như vậy nếu các sao này ở ngoài lại bị Tuần, Triệt án ngữ thì làm sao kết hợp được với Tử Phủ khiến cho hai sao này bị cô đơn, vô hiệu lực, thành ra vấn đề "tân khổ" thiết tưởng cũng rất hợp lý. Ngay cả với trường hợp Mệnh vô chÍnh diệu cũng vậy, bất luận có trung tinh tốt tại Mệnh hay không cũng cần phải có sự hỗ trợ bên ngoài, không khác gì một nước chạm tiến cần viện trợ của nước ngoài, nếu bị Tuần, Triệt ngăn trở thì làm sao còn có chỗ nương tựa, khiến cho đã xấu còn xấu thêm. Tai hại hơn cả trường hợp có chÍnh tinh nhiều. Quý bạn nào mệnh vô chÍnh diệu ở trong trường hợp sẽ cảm thấy "đương đầu" theo cách chiếu cũng hiệu nghiệm vô cùng.
Sau hết, có một điểm nhiều nhà Tử vi thắc mắc là tại sao Tuần, Triệt đương đầu (dù án ngữ tại Mệnh hay ở các cung tam hợp) chỉ hành hạ lúc "thiếu niên" chứ tuyệt nhiên không gây trở ngại cho tuổi từ trung tuần trở đi. Có vị cho rằng Triệt từ 30 tuổi sẽ yếu đi nhưng nếu nói đến "Tuần" thì hơi khó trả lời vì Tuần có ảnh hưởng suốt cả đời hoặc mạnh mẽ từ 30 tuổi trở đi. Có vị thì lý luận rằng lúc Ít tuổi chịu ảnh hưởng của Đại hạn đầu tiên tức là bị Tuần Triệt chi phối vì Đại hạn đầu nằm tại Mệnh, nhưng qua Đại hạn kế tiếp tránh được Tuần, Triệt rồi và tuổi còn trẻ mà sao vẫn "tân khổ" (trường hợp Tuần, Triệt án ngữ tại Mệnh còn có lý vì hai sao đó đè lên 2 cung, nhưng trường hợp ở các cung tam hợp hoặc xung chiếu thì đâu còn ảnh hưởng gì cho Đại hạn kế tiếp). Riêng tôi, tôi cũng không sao tìm hiểu nổi, vậy chỉ còn biết trông chờ các bậc uyên thâm Tử vi giải đáp giúp.

Nguồn: Tạp chí KHHB trước năm 1975.

LUẬN BÀN VỀ TUẦN TRIỆT VÀ CÂU PHÚÝ Nghĩa Của Tuần TriệtTác dụng của Tuần, Triệt có tính cách toàn diện, không có biệt lệ...
03/05/2024

LUẬN BÀN VỀ TUẦN TRIỆT VÀ CÂU PHÚ

Ý Nghĩa Của Tuần Triệt

Tác dụng của Tuần, Triệt có tính cách toàn diện, không có biệt lệ, tức là hai sao này chi phối tất cả các sao đồng cung và tất cả các cung có Tuần, Triệt án ngữ, không vị nể một sao nào hay một cung nào. Tuy nhiên, có sự phân biệt ít nhiều ý nghĩa của hai sao này, từ đó, có ảnh hưởng trên sự luận đoán:

Sự Khác Biệt Ý Nghĩa Giữa Tuần, Triệt:

Tuần là Ám Tinh, Triệt là Không Tinh. Như vậy, ý nghĩa Tuần tất nhiên nhẹ hơn Triệt. Tuần báo hiệu sự trắc trở, khó khăn còn Triệt báo hiệu sự bế tắc, chướng ngại lớn, sự lụn bại nặng nề.

Tuần ảnh hưởng suốt đời, còn Triệt chỉ mạnh cho đến khoảng 30 tuổi, tuổi tam thập nhi lập, tuổi từ đó con người có thể tự lập thân, không còn chịu ảnh hưởng nặng của gia đình.

Tác Dụng Tương Đồng Của Tuần, Triệt:

Trong thời gian hai sao còn ảnh hưởng, Tuần, Triệt đóng ở bất cứ cung nào đều tiên quyết:

Gây trở ngại ít hay nhiều cho cung đó. Mức độ ít hay nhiều này tùy thuộc sự tốt, xấu của 3 cung Phúc, Mệnh, Thân. Điều này có ngoại lệ cho cung Tật sẽ nói đến sau này.

Tác họa ít nhiều trên các sao đồng cung. Sự tác hóa này có hai cường độ: hoặc biến hoàn toàn ý nghĩa của sao (như biến sao xấu thành tốt hay ngược lại) hoặc chỉ giảm ảnh hưởng của các sao (như làm cho bớt tốt, bớt xấu).

Tuy nhiên, tác dụng tiên quyết này có 3 ngoại lệ:

• Nếu chính và phụ tinh tọa thủ vốn xấu mà gặp Tuần hay Triệt thì bớt xấu, có thể trở thành tốt được.

• Tuần, Triệt đóng tại cung Tật rất tốt vì tiên quyết ngăn trở rất nhiều bệnh tật, tai họa lớn cho đương số, bất luận tại cung Tật có sao tốt hay xấu.

• Tuần, Triệt đóng tại cung vô chính diệu thì lại hay. Nhưng ảnh hưởng tốt này cũng không tuyệt đối và tùy thuộc mức độ tốt của cung vô chính diệu. Nếu vô chính diệu mà được Tứ Không (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) thì rất đẹp, được Tam Không thì đẹp, đươc Nhị Không thì tầm thường, còn chỉ Nhất Không thì kém.

Tuần với Triệt đều có chung một tác động gọi bằng không vong, gọi tắt là Triệt Không và Tuần Không, mà nguyên tên là Triệt lộ không vong và Tuần trung không vong.

Tuần và Triệt khi chấn đóng đều đứng liền hai cung.

Với Triệt không thì cung dương là chính và cung âm là phụ với người tuổi dương can. Với người tuổi âm can thì cung âm là chính và cung dương là phụ. Chính thì tác động mạnh hơn, phụ tác động yếu hơn.

Bản chất Triệt không gồm có không hư và ảo tưởng giống như Thiên Địa Không. Nhưng nó còn mang đến những chướng ngại đột nhiên, điểm này mới là chủ yếu; gọi bằng Triệt lộ ví như người đang đi đường mà đường bị sụt xuống hoặc có núi lở ngăn chặn Triệt mất đường đi lối về.

Triệt gây hại nhất đối với Lộc Mã, mệnh có Lộc Mã hoặc vận có Lộc Mã mà gặp Triệt thì kể như không Lộc Mã. Triệt có thêm lưu niên Triệt nữa chứ không chỉ có Triệt đóng chết trên lá số.

Thường thấy phổ biến lý luận rằng sau ba mươi tuổi thì ảnh hưởng Triệt không còn. Chẳng có gì để chứng minh điều này là đúng. Qua kinh nghiệm thì bất cứ lúc nào Triệt cũng gây hại hoặc làm cho đỡ hại trước hay sau ba mươi gì cũng như nhau. Có thể suy ra rằng sau ba mươi tuổi tác đã chín chắn, có phần nào kinh lịch thì sự tai hại bớt đi chăng?

Luận cứ Triệt đáo kim cung sẽ giúp cho những sao ở hai cung này tốt đẹp hơn không đúng. Cung Thân (Kim) mà có Lộc Mã bị Triệt vẫn bị hỏng như thường.

Triệt kị nhất đối với sao Thiên Tướng rồi mới đến Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Lương, nói chung thì Triệt hãm hại cát tinh nhiều hơn hung tinh. Mệnh Thiên Tướng gặp Triệt dễ bị tai nạn lớn nguy hại cho tính mạng, càng đắc địa càng nặng. Có câu ca rằng:

Thiên Tướng miếu địa gặp ngay

Triệt Không án ngữ thân nay khó toàn

Hoặc vì súng đạn đao gươm

Tứ chi đầu mặt tật thương đó mà

Triệt chỉ đem lại lợi ích khi nó gặp Thái Âm, Thái Dương hãm, như Âm ở Dần Mão Thìn Tỵ, Dương ở Dậu Tuất Hợi Tí; hoặc nó gặp các hung sát tinh bất lợi cho Mệnh cho vận.

Sách Tử Vi Đẩu Số tinh diệu tổng đàm viết: Mệnh Thiên Đồng Thiên Lương đứng cùng Hóa Kị mà gặp Triệt Không án ngữ thành ra người tuyệt đối chủ quan.

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không nói gì đến cách Mệnh Vô Chính Diệu gặp Triệt Tuần Thiên Địa Không tức tam Không hoặc tứ Không, nhưng tập Thần Kế Định Số của Lê Quí Đôn thì có đề cập đến ảnh hưởng tốt của

Triệt khi vào cung Mệnh VCD qua các câu phú:

- Mệnh vô chính diệu hoan ngộ tam Không hữu song Lộc phú quí khả kì

(Mệnh không có chính tinh rất mừng có tam Không giàu sang khi có cả song Lộc)

- Mệnh Triệt Thân Tuần tu cần vô hữu chính tinh vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi

(Mệnh bị Tuần, Thân gặp Triệt được Mệnh không chính tinh lúc vào luống tuổi đời mới tốt đẹp)

Trở lại với sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ta thấy lời chú ghi bên dưới câu phú về Thiên Không như sau: “Mệnh cung Kim Không tắc phát nhị hạn nên gặp phúc, nếu Thủy Không sẽ lan tràn ngập lụt, Mộc Không ắt là gẫy đổ, Thổ Không thì đất sụt”

Phải chăng Triệt đáo kim cung và Tuần cư hỏa địa căn cứ vào câu phú trên đây? Nó đòi hỏi phải Mệnh vô chính diệu mới thật toàn bích? Nếu vậy thì Mệnh VCD chỉ ở cung Kim cung Hỏa mới hay?

Nói sang Tuần Không toàn danh của nó là Tuần trung không vong. Tuần cũng phân ra chính với phụ như Triệt. Tuần sức công phá của tính chất “triệt lộ” không bằng Triệt, bởi vậy Thiên Tướng sợ Triệt gây nguy hại hơn Tuần.

Triệt phá hoại đột nhiên từ hoàn cảnh. Tuần lại trễ nải tự nơi mình. Cho nên mới có cái cách Thìn Tuất Phá ngộ Tuần Khoa lại nên hay. Nhờ Tuần khiến tự mình sửa lại cho ngay ngắn bản chất xông xáo bừa bãi của Phá Quân. Sự khác biệt căn bản giữa Tuần với Triệt là thế.

Nói tóm lại Tuần công phá nhẹ hơn Triệt chứ không phải Tuần kéo dài sự phá hoại còn Triệt thì sau ba chục tuổi thì hả hơi đi.

Về tính không tưởng, ảo tưởng, Tuần Triệt kém Thiên Không ở điểm: Thiên Không khi thành tư tưởng triết lý có thế hệ tổ chức hơn Tuần Triệt. Tuần Triệt tư tưởng triết chỉ đột nhiên thôi. Bởi vậy Thiên Không gặp Xương Khúc hay hơn Xương Khúc bị Tuần Triệt.

Sao rất kị với Triệt khác là Thiên Mã. Thiên Mã ngộ Triệt gọi bằng Triệt túc Mã, ngựa gẫy chân. Mã đứng với Lộc bị Triệt làm ăn thất bại. Mã đứng một mình không cần Lộc dễ bị té ngã thương tích (đã bàn đến luận ở Lộc Mã)

Tìm hiểu thêm về Tuần Triệt qua các câu phú:

- Tam Không độc thủ phú quí nan toàn

(Mệnh vô chính diệu chỉ có tam Không mà thiếu Khoa Quyền Lộc Lộc Tồn thì giàu sang không lâu bền)

- Tuần Triệt ngộ Thiên Hình tha hương cách lý

(Mệnh có Tuần Triệt gặp sao Thiên Hình thường xa quê hương bản quán)

- Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại

(Tuần Triệt không nên gặp Lộc Tồn cơ nghiệp không giữ được)

- Tuần Triệt án ngữ trạch điền

Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho

- Tam không hội Văn Xương ư thê cung thiềm cung triết quế

(cung thê không chính tinh có Văn Xương với tam Không thì lấy vợ con nhà danh giá)

- Triệt Tuần ngộ Mã hành thê vị

Vợ bỏ chồng đào tị tha hương

- Cung huynh đệ Triệt Tuần xung củng

Chim đầu đàn bay bổng xa khơi

- Tam Không chiếu hội tao cát diệu

Lại dưỡng tinh có đạo con nuôi

(cung tử tức không chính tinh gặp tam Không và sao Dưỡng)

- Không phùng Phá Tử phối vào

Vợ chồng trắc trở ba tao mới thành

(Cung Phu Thê có Tử Phá bị Tuần Triệt)

- Triệt Tuần xung khắc chẳng sai

Thiên Hư bất chính cả hai vợ chồng

- Phúc hữu chính tinh kị ngộ Triệt Tuần hoặc gia sát diệu lai ngộ Kiếp Cự thủy nịch tử

(Cung Phúc sao chính sợ gặp Triệt Tuần lại thêm Kiếp Cự dễ chết đuối)

- Tam Không xung sát hạnh Triệt khả bằng

Tứ chính giao phùng kị Tuần trực đối

(Vận hạn bị các hung sát chiếu mà cung vận hạn có Triệt sẽ đỡ, vận hạn có nhiều sao tốt chiếu mà cung vận hạn có Tuần trở thành vô ích)

- Thân cư Thê vị, Triệt Tuần lai xâm thiếu niên ai lệ nãi thất tình

Gia lâm cát tú lương duyên mãn kiếp

(Thân đóng Thê bị Tuần Triệt tuổi trẻ thất tình, có cát tinh phò trợ thì luống tuổi được duyên lành)

- Thân cư Quan Lộc nhược kiến Triệt Tuần Kiếp Kị nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu vũ lộ thừa ân khả dãi quá trung tuần dĩ hậu

(Thân đóng cung Quan Lộc bị Triệt Tuần Kiếp Kị tuổi trẻ danh phận bôn ba, có cát tinh hội tụ ngoài tuổi năm mươi mới được hưởng ơn mưa móc)

- Thân tại Quan cung gia sát diệu Triệt Tuần, nữ mệnh nan bảo thân danh

Gia kiến Bạch Tang thân cô trích ảnh, nghi gia vãn tuế tất thành

(Thân đóng Quan Lộc gặp sát tinh và Triệt Tuần, số gái khó bảo toàn danh tiết lại thêm Bạch Hổ Tang Môn thì cô đơn phải muộn tuổi mới lấy chồng)

- Triết túc Đà Mã sum vầy

Tử Mã Tuần Triệt đêm ngày khảm kha

(Mã bị Tuần Triệt là ngựa chết cuộc đời khảm kha)

- Mệnh vô chính diệu tam Không

Nhật Nguyệt giao chiếu dự phần công khanh

- Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính

Mã gặp Không thì tính tang bồng

(Triệt Không và Địa Kiếp)

- Tam Không ngộ Dưỡng đinh ninh

Nuôi con nghĩa tử giúp mình yên vui

- Dưỡng Thai Triệt Vượng thấu vào

Trong anh em có dị bào chẳng không

- Tang Môn Hư Khốc chẳng hay

Tuần Triệt viễn phối họa may mới thành

(Đây là những sao đóng ở cung Phu Thê)

Chính tinh – Thái ÂmThái dương đại diện cho đàn ông, Thái Âm đại diện cho đàn bà. Thái Âm hành thủy, lại mang tính Âm, n...
01/05/2024

Chính tinh – Thái Âm
Thái dương đại diện cho đàn ông, Thái Âm đại diện cho đàn bà. Thái Âm hành thủy, lại mang tính Âm, ngược lại là Thái Dương hành hỏa, và mang tính dương. Hành Thủy thì màu đen, Hành hỏa thì màu đỏ, Âm thì thu vào, còn Dương thì tỏa ra. Vì vậy Thái âm – Âm thủy có đặc tính thu vào. Thâm trầm và nhẹ nhàng, nhưng Thủy cũng có thủy this và thủy that, nên nước cũng có nước mặt hồ cũng có nước ở đáy hồ. Mỗi kết cấu tinh hệ lại tạo lên những nền tảng nước khác nhau. Ngũ hành Thủy tượng trưng cho Trí não, sự thông tuệ và am tường.
Quay lại với Thái Âm, Thái âm luôn tam hợp với Thiên lương, cả 2 đều trong bộ ấm - ấm áp, bảo bọc. Thiên Lương là cái cây, còn Thái Âm là thứ bóng râm ở bên dưới. Dễ hiểu hơn, sự bảo bọc của Thiên Lương là hình ảnh bảo bọc về vật chất, còn Thái âm thì thiên về thầm lặng mang tính cảm xúc, tình cảm. Cả Lương lẫn Âm đều thể hiện tính Ấm với điều kiện là có mqh ràng buộc như gia đình, vợ chồng, người yêu hoặc vị trí công việc. Khác với tính bảo bọc mang tính tao thích thì tao làm – Nam nhi chi trí của Thái Dương, hay nặng tính yêu đương tình nghĩa nam nữ của Phủ Tướng.
Thái Âm còn là 1 tài tinh, thứ 2 trong 14 chính tinh là Vũ Khúc, bài về vũ khúc tôi sẽ viết sau, nhưng hay 1 cái, Vũ Khúc và Thái Âm là cặp CÂN THIÊN ĐẠO thứ 4 sau Lương Liêm, Phá Cơ và Đồng Tham. Thế này thì ai địch nổi về mặt tài tinh rồi khi mà Vũ và Âm đều luôn nhìn thấy nhau, Thái âm Minh thì Vũ Khúc Ám, Vũ Minh thì Âm Ám. Vợ chồng nhà này lấy hết tiền của thiên hạ. Vậy tính tài của Âm là gì? Như đã nói ở trên, Thái Dương chủ dương ra, thì Thái Âm chủ gom vào, hình ảnh của sự tích lũy. Vượng tướng thì ai cũng to béo, phát tướng cũng vậy. Nên đều là kết quả của sự thu vào của Âm (Âm dương). Vì bản tính thu vào, lại nhị hợp với Vũ khúc, nên chúng ta sẽ thấy được sự chi li, tính toán hay trí thông minh của cả Âm hoặc Vũ. Nhưng một bên thu vào để bảo bọc, một bên lại tính toán cho bản thân. CÂN THIÊN ĐẠO này tôi gọi là vì mình hay vì người. Âm quá mạnh, Vũ quá yếu thì Cân lệch vì người, Âm quá yếu, Vũ quá mạnh, thì Cân lệch sang sự ích kỷ và cô độc của bản thân. Vũ quá kém thì sự tính toán cân đo không được tốt, khi đó lại thành tiêu hoang…Mỗi ý nghĩa sẽ tạo lên những luận đoán khác nhau, Tử vi vi diệu là ở chỗ đó. Vì hạn chế của bài viết, tôi chỉ mang tính gợi ý, mong bạn đọc có thể tìm hiểu thêm và chia sẻ để những người khác cùng học Tử vi.
Thái Âm còn cai quan cung Điền Trạch, đây là một tính chất của một số chính tinh, lần đầu tôi nhắc tới trong loạt bài viết về các chính tinh, ngoài ra như Thiên Cơ thì chủ cung Huynh Đệ - Thiên cơ cũng tượng là Tay Chân – Anh em như thể tay chân….Do đó, một trong số những luận đoán vận hạn về Thái Âm sẽ luôn có những tượng: Đất đai, tiền bạc và người phụ nữ: mẹ, vợ…
Thái Âm, và Thái Dương là 2 sao duy nhất có Tự Thái. Thái trong từ thái quá, nhiều. 2 bàng tinh có một số tính chất và được coi là 2 mặt trăng, mặt trời nhỏ là Thiếu Âm và Thiếu Dương thuộc vòng Thái tuế, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm. Chính từ Thái này sẽ làm tăng sắc thái của Thái Âm, ví dụ như Âm mưu thái quá, chăm lo thái quá, âm u thái quá….
Thái Âm vì bản chất là cực âm, nên hạn chế những ám tinh, đặc biệt là những tính cách có phần u mê như Diêu và Kị - Một sắc thái của tính cách này có thể được mô tả bằng sự Đa nghi thái quá, hoặc tự huyễn, nhìn Gà lại bảo là Quốc. Hỏi tại sao, vì tao linh cảm như thế. Hạn chế tính phá cách Ấm của Thái âm bởi Triệt và Đà. Hỏa Linh sẽ đánh tan sự ấm áp của Thái Âm – Thái Âm hỏa linh đồng cung phản thiện/vi thập ác. Thực ra đây là tính Chết của Hỏa Linh đồng cung – cặp đoản thọ sát tinh, nên ở đây Hỏa Linh đóng vai trò giết chết sự âm thầm, ấm áp của Thái Âm, mà dẫn tới sự phá cách.
Thái âm nên đi theo các văn cát tinh để tạo lên tính thiện, hạn chế các sao dâm tinh, đặc biệt trong các tổ hợp sao đôi như Đồng Âm để tránh tạo lên phận gái long đong.
P/s: Thánh thiện như đức mẹ, nhưng lòng dạ đàn bà cũng rất đáng sợ. Thứ nước ở mặt hồ rất nhạy cảm, chỉ 1 chiếc lá cũng làm xao động, thứ nước ở đáy hồ thì tĩnh, nhưng tối vì ánh sáng không chiếu tới, nước hồ càng sâu, càng ẩn tàng nhưng nguy hiểm bất ngờ. Lật thuyền là nước mà đẩy thuyền đi cũng là nước. Chăm ta cũng là thái âm, mà kẻ thù đáng sợ nhất đôi khi cũng là Thái Âm.

Nguồn: Vô Đạo

Chính tinh – Thái DươngVị trí thứ 4 trong nhóm có vai trò lãnh đạo là Thái Dương, một sao hành Hỏa, và mang tính Dương. ...
30/04/2024

Chính tinh – Thái Dương
Vị trí thứ 4 trong nhóm có vai trò lãnh đạo là Thái Dương, một sao hành Hỏa, và mang tính Dương. Dương đại diện cho đàn ông: Con trai, Người chồng, người bố. Như các bạn đã biết, Mặt trời muốn chứng minh sự tồn tại của nó thì điều quan trọng nhất nó phải làm là chiếu sáng vạn vật, “làm trai phải có danh gì với núi sông”, Lục Vân Tiên thì “giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”…Tất cả đều có dáng dấp thứ hình ảnh của một chính tinh: Cực Dương hành Hỏa – Thái Dương.
Thái Dương chủ về Danh, Thái Âm chủ về Lợi. Danh ở đây là Danh tiếng, Danh vọng, thứ tiếng tăm cao nhất là sự tôn sùng đưa Mặt trời chở thành 1 chủ thể được thờ cúng: Thần mặt trời. Vậy cái Danh của Thái Dương khác gì với những Danh từ các chính tính khác, bởi ta biết vẫn có ít nhất là 10 chính bàng tinh Hóa Khoa – cũng là một dạng xưng Danh như can Giáp Vũ hóa Khoa, Can Ất: Tử vi, Can Đinh: Thiên Cơ…Và ở đây bạn đọc cũng thấy Thái Dương không hề có Hóa Khoa. Các tinh diệu hóa Khoa tôi sẽ không phân tích, quay lại về Thái Dương, vì bản chất đây là 1 Chính tinh Cực dương lại hành Hỏa, nên nó đã hàm chứa Danh trong bản thân nó, nó giống như thứ gọi là “tuyên ngôn tồn tại” của một ai đó, thứ gì đó, như: mình là nắng, thì việc của mình là chói chang, hay mình là cá việc của mình là bơi…Chính cái thứ tuyên ngôn này mà tạo lên một sự ràng buộc nhất định trong lẽ sống của Thái Dương, có những Mặt trời tỏa sáng gay gắt, nhưng cũng có những thứ mặt trời chỉ le lói vài tia sáng Drama nào đó.
Thái Dương bản chất rất tốt, họ chiếu sáng không vụ lợi, quan trọng là Danh, vậy nên Thái Dương nên được nịnh, không cần thiết phải tôn sùng như Thần mặt trời, nhưng không được quên về sự tồn tại của họ. Thái Dương giúp đỡ không cần mối quan hệ ràng buộc không như các sự giúp đỡ cần mqh ràng buộc khác như Âm, Lương, Phủ Tướng tôi đã đề cập đến ở bài viết trước. Tùy vào mỗi thế đứng mà tính định Danh của Thái Dương sẽ có những sự khác biệt mang tính định lượng. Danh sẽ gắn liền với tính sĩ diện, vậy nên đây cũng là 1 bản tính quan trọng của Thái Dương, Danh là thứ phải đạt được, phải được công nhận, Danh không phải là thứ đi xin, hoặc được cho. Nên Nịnh Thái Dương cũng phải rất có tính logic, không họ lại dỗi thì khó làm hòa. Danh tự nhiên đi liền với Tự tin, vì họ tin rằng những thứ họ đang có thực sự phải được trở thành trung tâm, mặc dù có thể với cả xã hội này, điều đó cũng tầm thường như cân đường hộp sữa, nhưng Thái Dương lại không biết điều đó. Với những Thái Dương thực sự không có quá nhiều tài năng thứ đc tỏa sáng, họ sẽ khó đạt được mục đích của mình, họ không thể trở thành trung tâm của một thứ gì đó vì thế sẽ phát sinh ra những Kẻ tạo Drama, hoặc đi đường vòng để đạt được mục đích, gắp thịt lườm rau hoặc đôi khi “Nghiện nhưng Ngại mở lời”.
Một kẻ thích Danh, mà không màng tới Lợi, vậy điều gì lại tạo lên tính cách nửa mùa này. Đó là một vai trò của CÂN THIÊN ĐẠO cuối cùng trong 14 chính tinh: Dương – Phủ. Thái Dương luôn nhị hợp với Thiên Phủ, một cái kho tiền, nếu là Kho to thì có thể hỗ trợ rất nhiều bản tính thích nổi của Thái Dương…Bạn đọc tiếp tục phân tích về CÂN THIÊN ĐẠO này nhé, tôi sẽ không viết chi tiết, coi như đây là một thứ để nghiệm thêm.
Con người không thể thoát ra khỏi vai trò của gia đình, xã hội, cũng như thời vận. Con người có thể tính cách khác nhau: NHân nhưng Thời và Vận vẫn có những ảnh hưởng nhất định chung nhất ví dụ như: Luật pháp – Quy chuẩn xh thành văn và bất thành văn, hệ thống giáo dục, Địa Chính trị…thế nên như Việt nam, tính Thái Dương sẽ bị ảnh hưởng khá nhiều bởi Văn hóa, Địa, Chính trị việt nam như ảnh hưởng phong kiến dẫn tới tính Gia Trưởng, phong tục Người đàn ông làm chủ gia đình nên có tính gánh vác, trọng trách…Tất cả những tính cách bên trên của Thái Dương phá cách sẽ được quy ngược lại ví dụ: Nhu nhược, không thích gánh vác, không thích tỏa sáng, không có năng lực tỏa sáng hoặc năng lực tỏa sáng lại không thể dùng được…
Thái Dương có nhiều thế đứng
Cự Nhật đồng cung Dần Thân, và Nhật độc thủ tại Tỵ, Cự môn xung chiếu.
Dương Lương đồng cung Mão Dậu, và Dương độc thủ tại Tý Ngọ, Thiên Lương xung chiếu.
Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi và Dương độc thủ tại Thìn Tuất, Thái Âm xung chiếu.
Nói về các tổ hợp tinh hệ, Thái Dương là nguồn sáng, chủ về Danh, nên để Danh trong sạch và tốt, cần đi với Lộc và Lộc tồn, Cần một thiên Phủ sáng và chứa đầy tài Lộc, Danh này cũng cần phải đi cùng các văn tinh hoặc Quyền tinh, Khoa bảng, để thúc đẩy tính thành công của Danh. Và tất nhiên: Danh không nên đi với những Ám tinh: Đà, Kị vì chủ về những thứ u ám, che mờ hay vết nhơ, cũng không nên đi với Không hoặc Kiếp chủ về Không có Danh vọng và thứ kiếp nạn về Danh (Danh không được xã hội công nhận – trái truyền thống). Thái Dương cũng không nên đi với Triệt vì chủ về khuyết Danh, thứ Danh vọng có đó, nó tồn tại đó mà không được công nhận, cũng không nên đi với Tuần mặc dù hiệu ứng của Tuần không phá Thái Dương mạnh như Triệt, nhưng sẽ dẫn tới sự lận đận, khó khăn, mãi tìm kiếm Danh vọng của bản thân…Thái Dương tính cực Dương nên không hợp cho nữ Mệnh tính âm, đặc biệt là ở Xh Việt nam, nữ mệnh Thái Dương chủ sự về tính hiện đại, có tâm sinh lý của Nữ nhưng lại giỏi giang, xốc vác và háo danh như Nam giới. Vậy nên nữ mệnh Thái Dương chuẩn phụ nữ hiện đại nhưng cái gì quá sẽ tự khắc sẽ phản.
Thái Dương cũng là tượng về hệ thần kinh trung ương hoặc Mắt phải, do đó cũng không nên đi cùng với các sao Hỏa Linh, vì Hỏa Linh chủ đánh về thần, nên rất dễ làm nhiễu loạn hệ thần kinh, nặng thì dẫn tới Ngáo, nhẹ thì ngơ như con nai vàng ngơ ngác đạp nát một nhành hoa…Mỗi hóa, tạp diệu hay tinh diệu đi cùng Thái Dương đều tạo ra những thứ ánh sáng, thứ danh vọng khác nhau, điều quan trọng là bạn đọc cần tìm kiếm được chi tiết Nguồn sáng này thực chất là gì dựa vào các kiến thức thùy tượng – có thể tìm trong phần Files: Tượng sao load ở Group Huyền Học Ứng Dụng về.
Kiêu hãnh và Định Kiến: Tôi trích dẫn bài thơ Chí làm Trai của Nguyễn Công Trứ để kết thúc bài viết.
“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh thế thuợng thuỳ vô nghệ
Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh
Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ
Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ
Quyết ra tay lèo lái trận cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ
Đuờng mây rộng thênh thênh cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi ruợu bầu.”

Nguồn: Vô Đạo

KHÁI NIỆM TỨ HÀNH XUNG VÀ CÁCH HÓA GIẢIHiểu đúng về ý nghĩa “tứ hành xung” để mang lại hạnh phúc cho các mối quan hệNếu ...
29/04/2024

KHÁI NIỆM TỨ HÀNH XUNG VÀ CÁCH HÓA GIẢI

Hiểu đúng về ý nghĩa “tứ hành xung” để mang lại hạnh phúc cho các mối quan hệ

Nếu bạn đã nghe nhiều về quan niệm “tam hợp – tứ hành xung” trong phong thủy nhưng liệu bạn có hiểu đúng về ý nghĩa của tứ hành xung để mang lại những điều tốt lành, bình an trong cuộc sống hay chưa? Những cụm từ này thường được xem xét mỗi khi các tuổi làm ăn với nhau, có đám cưới, đám hỏi hoặc một sự hợp tác nào đó. Cùng tìm hiểu kĩ hơn về những khái niệm này để hỗ trợ tốt cho công việc cũng như các mối quan hệ trong cuộc sống của bạn nhé.

1. Hiểu đúng về tứ hành xung là như thế nào? Khái niệm tứ hành xung và cách hóa giải

Theo quan niệm phong thủy có 3 nhóm con giáp xung khắc với nhau, mỗi nhóm bao gồm những con giáp sau:

Dần, Thân, Tỵ, Hợi

Tý, Ngọ, Mão, Dậu

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Các tuổi có theo nhóm xung khắc này rất kị nhau nếu như có các mối quan hệ làm ăn, hôn nhân hoặc hợp tác dễ gây ra mâu thuẫn cũng như khắc chế lẫn nhau, hậu quả nặng hơn có thể là việc gì cũng không suôn sẻ, không thành công, áp chế nhau trong nhiều phương diện.

Nhưng bạn cũng đừng nghĩ rằng cả 4 con giáp trong mỗi nhóm sẽ đều xung khắc lẫn nhau, quan niệm đó là hoàn toàn sai lầm. Việc dựa theo tứ hành xung để xét hai tuổi có tương khắc nhau không thì là không chính xác.

2. Xung khắc theo quan niệm âm dương ngũ hành Khái niệm tứ hành xung và cách hóa giải

Theo như quy ước chúng ta có ngũ hành ứng với 12 chi như sau

Thân – Dậu thuộc hành Kim

Dần – Mão thuộc hành Mộc

Tý – Hợi thuộc hành Thủy

Tỵ - Ngọ thuộc hành Hỏa

Sửu – Thìn – Mùi – Tuất thuộc hành Thổ

Có thể thấy rằng trong cả 3 nhóm tứ hành xung, vẫn có tồn tại những cặp giáp Nhị hợp. Và con giáp chỉ xung khắc khi ứng theo cặp và tạo thành Lục xung bao gồm các cặp như sau:

– Sửu – Mùi tương xung.

– Tý – Ngọ tương xung.

– Dần – Thân tương xung.

– Tỵ – Hợi tương xung.

– Mão – Dậu tương xung.

– Thìn – Tuất tương xung.

Theo như quan niệm ngũ hành trong phong thủy thì Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc và Mộc khắc Thổ, Thổ lại khắc chế Thủy. Vì vậy những cặp xung khắc này cũng được tính theo nguyên tắc tương sinh tương khắc.

Dần Mộc và Thân Kim xung khắc lẫn nhau.

Hợi Thủy và Tỵ Hỏa xung khắc.

Dần Mộc lại được Hợi Thủy tương hợp, không có gì xung khắc.

3. Xung khắc còn dựa theo bản mệnh của từng người Khái niệm tứ hành xung và cách hóa giải

Trong phong thủy, người ta sử dụng thiên can địa chi có nghĩa là 12 con giáp là 12 địa chi, và 10 thiên can. Mỗi một can chi đều có hành riêng trong ngũ hành phong thủy và 12 thiên can cũng đều chia theo những yếu tố đó:

Canh Tân thuộc hành Kim.

Giáp, Ất thuộc hành Mộc.

Nhâm Quý thuộc hành Thủy

Bính Đinh thuộc hành Hỏa.

Mậu Kỷ thuộc hành Thổ.

Hai con giáp sẽ chỉ xung khắc thực sự với nhau nếu mệnh tương khắc lẫn nhau. Ví dụ nếu ta nói Tị với Hợi tương xung, Nhưng Kỷ Tỵ lại là nạp Âm Mộc và tuổi không xung khắc với Kỷ Hợi nạp Âm Mộc. Tuổi Quý Hợi nạp âm là Thủy còn tuổi Kỷ hợi là tương hòa vì cả hai đều cùng là Âm Mộc. Còn Kỷ Tỵ và Quý Hợi là tương sinh vì Mộc Kỷ Tỵ được Thủy Quý Hợi hỗ trợ.

Thực ra nếu mà nói đến vấn đề tương khắc hay tương hợp thì còn phải dựa trên rất nhiều yếu tố khác nhau để có thể đưa ra được kết luận chính xác được. Nên hiểu rõ hơn về tứ hành xung để có thể tính toán, đo lường được những trường hợp vì không hợp tuổi mà dẫn đến nhiều sự trắc trở, hay các mối quan hệ trong gia đình cũng như trong cuộc sống trở gặp nhiều trắc trở.

4. Cách hóa giải các cặp tuổi không hợp nhau

Tuổi Tỵ - Hợi

Tuổi Hợi hợp với hướng Bắc còn tuổi Tỵ hợp với hướng Nam. Cách mà 2 tuổi này nên chọn để hóa giải sự xung khắc lẫn nhau là trồng cây ở hướng Nam và sử dụng đèn để chiếu sáng ở hướng Bắc mang lại cảm giác thư giãn, dễ chịu hơn.

Tuổi Dần – Thân

Tuổi Thân hợp với hướng Tây còn tuổi Dần hợp với hướng Đông. Cách mà 2 tuổi này nên chọn để hóa giải sự xung khắc lẫn nhau là dùng đèn chiếu sáng vào hướng Tây và Đông tương ứng với 2 tuổi này.

Tuổi Mão – Dậu

Tuổi Mão hợp với hướng Đông và Đông Nam, còn tuổi Dậu hợp với hướng Tây và Tây Bắc. Cách mà 2 tuổi này nên chọn để hóa giải sự xung khắc lẫn nhau là sử dụng các viên đá ở những hướng này để bớt đi sự xung khắc.

Tuổi Thìn – Tuất

Tuổi Thìn thì đặt một bình hoa hoặc bế cá cảnh tại hướng Tây Nam, Đông Bắc hoặc bạn cũng có thể thiết kế một cổng thác nước, hòn non bộ ở hướng trên, như vậy sẽ cuốn trôi đi những sự xung khắc không tốt giữa tuổi Thìn và tuổi Tuất.

Tuổi Sửu – Mùi

Cả hai con giáp này đều thuộc hành Thổ, nếu muốn có sự hòa hợp tương hợp giưa 2 người tuổi này thì lựa chọn treo một chiếc chuông gió bằng kim loại ở những vị trí trong nhà nơi mà hai người thường xuyên tiếp xúc như phòng khách hay phòng ăn sẽ hóa giải được nguồn năng lượng Thổ nặng nề mà cả hai đem lại.

Hiểu rõ về tứ hành xung và cách hóa giải của những cặp tuổi khắc chế lẫn nhau sẽ giúp cho các mối quan hệ và công việc, làm ăn kinh doanh của bạn trở nên thuận lợi, suôn sẻ hơn cũng từ đó giúp bạn gặp nhiều may mắn và bình an trong cuộc sống. Tuy nhiên dù chúng ta có tìm cách hóa giải như thế nào đi chăng nữa cũng không thể nào tránh được những rắc rối hay những trắc trở trong cuộc sống, vì vậy cần nên nhường nhịn và thông cảm lẫn nhau, để cuộc sống có thể được tươi vui hơn, hạnh phúc hơn.

( bài viết mang tính chất tham khảo)

Address

Son La Chau

Telephone

+84393791234

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tử Vi Hoàng Huy posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tử Vi Hoàng Huy:

Share

Category